TS.BS. Nguyễn Hoàng Long

  1. 1.    Khái niệm, ưu – nhược điểm của phương pháp

Phong bế ngoài màng cứng qua liên bản sống (interlaminar epidural injection – tiêm ngoài màng cứng truyền thống) là phương pháp điều trị khá phổ biến cho những bệnh nhân đau chân hoặc đau lưng trong một số bệnh lý cột sống. Tuy nhiên, phương pháp phong bế ngoài màng cứng có nhược điểm là thuốc được đưa vào cột sống từ phía sau, mà đa phần các nguyên nhân gây chèn ép ở cột sống lại từ phía trước. Hơn nữa, đa phần các bác sỹ tiến hành thủ thuật phong bế ngoài màng cứng theo phương pháp truyền thống thường không sử dụng X quang trong tiêm, nên thuốc nhiều khi không đến được vị trí đích., chính vì vậy phương pháp phong bế ngoài màng cứng qua lỗ liên hợp khắc phục được nhược điểm của phương pháp phong bế ngoài màng cứng truyền thống.

teNMC  teLLH

Hình ảnh minh họa sự khác nhau giữa tê ngoài màng cứng liên bản sống và tê ngoài màng cứng qua lỗ liên hợp

  1. 2.    Kỹ thuật:
  • Bệnh nhân được đặt nằm sấp trên bàn mổ (bàn không cản tia X quang)
  • Dùng kim chọc tủy sống thông thường dưới hướng dẫn của X quang đi qua lỗ liên hợp để vào vùng phía ngoài màng cứng
  • Tiêm thuốc cản quang thấy thuốc lan xung quanh phía ngoài màng cứng
  • Tiêm thuốc corticoid và lidocain

 tellh

Hình ảnh X quang thuốc tập trung chủ yếu ở một bên (phía chân đau) và ở phía trước (nơi có tổn thương chèn ép rễ thần kinh)

Kỹ thuật này cho phép thuốc tiếp cận gần nhất với vùng tổn thương, chèn ép rễ thần kinh hơn so phương pháp tiêm ngoài màng cứng truyền thống

  1. 3.    Chỉ định và kết quả:
  • Thoát vị đĩa đệm, hẹp lỗ liên hợp, hẹp ống sống ngách bên.
  • Trong các nghiên cứu cho thấy các bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm và đau chân đạt được sự cải thiện tối đa vào khoảng tuần thứ 6. Tỷ lệ thành công đạt được từ 71 – 84%.
  1. 4.    Tiêm càng nhiều mũi càng tốt ?

Gần như một quy luật, những bệnh nhân đạt hiệu quả ít đối với mũi đầu tiên thì thường kết quả thấp với các mũi 2 và 3.

  1. 5.    Các biến chứng

Biến chứng thường hiếm xảy ra, một số biến chứng của phương pháp này như: đau đầu, nhiễm trùng, thay đổi huyết áp, chảy máu, tổn thương rễ thần kinh và đau ở vùng tiêm.