TS.BS. Nguyễn Hoàng Long

I.             Tổng quan

Đau kiểu rễ thần kinh vùng thắt lưng là bệnh lý khá phổ biến, gây ảnh hưởng tới sức khỏe và tinh thần của bệnh nhân, cũng như gây hạn chế trong sinh hoạt và lao động/làm việc.

Điều trị nội khoa đơn thuần hoặc kết hợp vật lý trị liệu và châm cứu chưa thể kiểm soát được đau.

Hiện nay, với sự trợ giúp của X quang tăng sáng truyền hình cho phép đưa thuốc đến tận mục tiêu đích khu trú và nằm ở sâu.

SNRI05SNRI06

Hình minh họa phong bế chọn lọc rễ thần kinh (nhìn thẳng và nghiêng)

II.           Cơ chế phương pháp phong bế rễ thần kinh thắt lưng (SNRB – Selective Nerve Root Block)

-       Đau kiểu rễ thần kinh do hai cơ chế:

  • Cơ chế vật lý: do chèn ép rễ thần kinh
  • Cơ chế hóa học: gây viêm, kích thích rễ thần kinh

Do một trong hai cơ chế hoặc cả 2 đều gây đau và ảnh hưởng đến chức năng cảm giác của bệnh nhân.

-       Các sợi thần kinh dẫn truyền cảm giác đau loại C (sợi không có myelin) rất dễ bị tác dụng phong bế bởi Corticosteroid.

III.        Chỉ định và chống chỉ định

-       Chỉ định:

  • Đau kiểu rễ thần kinh vùng thắt lưng (theo phân bố của rễ thần kinh trên da)
  • Điều trị bảo tồn thất bại (nội khoa, vật lý trị liệu, châm cứu)
  • Chẩn đoán:bệnh nhân có thoát vị nhiều tầng, không rõ do thoát vị nào gây triệu chứng.Phong bế chọn lọc rễ thần kinh giúp xác định chính xác rễ tổn thương

-       Chống chỉ định:

  • Nhiễm trùng
  • Bệnh lý về đông máu
  • Dị ứng thuốc(thuốc tê, thuốc cản quang, corticosteroid)

IV.         Trang thiết bị

-       Máy X quang truyền hình (C arm)

-       Kim gây tê tủy sống 25G

-       Thuốc cản quang (tan được trong nước)

-       Thuốc tê Lidocain 2%

-      Thuốc corticosteroid (Diprospan – Betamethasone 5mg)

Mỗi bệnh nhân có thể tiêm từ 1 đến 2 tầng hoặc tiêm từ 1 đến 2 bên cùng một lúc.

Mỗi năm không quá 3 lần phong bế

SNRI03 nho

Hình ảnh phong bế chọn lọc rễ thần kinh L4 phải